Vua Trần
Nhân
Tông
và
Trúc Lâm
Yên Tử
Năm
1299,
vua Nhân
Tông
xuất gia
tại chùa
Hoa Yên
núi Yên
tử, lấy
hiệu là
Hương
Vân Đầu
Đà (sau
này vua
đổi hiệu
là Trúc
Lâm Đầu
Đà). Vua
được
nhận là
người
truyền
thừa
chính
thức của
phái Yên
Tử, thế
hệ thứ
sáu,
tiếp nối
vị tổ sư
thứ năm
là thiền
sư Huệ
Tuệ. Từ
đó trở
đi, phái
Yên Tử
trở
thành
nổi
tiếng,
thế lực
lan rộng
trong
triều
đ́nh và
giữa
nhân
gian.
Một ông
vua đă
từng
đánh bại
cuộc xâm
lăng của
nhà
Nguyên,
một ông
vua đă
đem ḥa
b́nh và
thịnh
trị cho
dân, một
ông vua
như thế
khi đi
xuất gia
chắc
chắn đă
gây nên
một
tiếng
vang lớn
và khiến
tất cả
mọi
người
trong
nước
hướng
nh́n về
ngọn núi
Yên Tử.
Đạo Phật
trở
thành
yếu tố
tâm lư
liên kết
toàn dân
lại
trong
một mục
đích xây
dựng và
bảo vệ
quốc gia.
Nhân
Tông và
Anh Tông
là những
nhà
chính
trị giỏi,
nhưng
đồng
thời
cũng là
những
Phật tử
thật sự.
Nhà phê
b́nh
lịch sử
có thể
nói họ
lợi dụng
đạo Phật
cho
chính
trị
nhưng
nhà phê
b́nh văn
hóa cũng
có thể
nói họ
là những
người
Phật tử
sùng đạo.
Phong
trào
Phật
giáo
nhập thế
gọi là
Trúc Lâm
yên Tử
chỉ hưng
thịnh
cho đến
khoảng
giữa thế
kỷ thứ
mười bốn.
Sau đó,
phong
trào yếu
dần. Từ
đây cho
đến cuối
thế kỷ
thứ mười
sáu,
thiếu sự
nâng đỡ
của
những
ông vua
Phật tử,
đạo Phật
rút lui
về căn
cứ của
ḿnh ở
chùa
trên núi
và nơi
thôn quê.
Các chùa
ở thủ đô
Thăng
Long
thôi
đóng vai
tṛ quan
trọng về
chính
trị.
Một thời
gian sau
ngày
xuất gia,
vua Nhân
Tông đă
đổi pháp
hiệu là
Trúc Lâm.
Ta biết
rằng vị
tổ thứ
hai của
thiền
phái Yên
Tử,
thiền sư
Đạo Viên
(hay
Viên
Chứng)
ngày xưa
đă được
ban hiệu
là Trúc
Lâm quốc
sư. Nhân
Tông đă
xuất gia
và đă
trở nên
một vị
cao tăng,
tổ sư
thứ sáu
của phái
Yên Tử
và là tổ
sư thứ
nhất của
phái
Trúc Lâm:
ta gọi
vua bằng
pháp
hiệu
Trúc Lâm
của vua,
trong
khi
không
quên
rằng
Trúc Lâm
quốc sư
Đạo Viên
là một
vị tiền
bối của
vua.
Trúc Lâm
Đầu Đà
tên tục
là Trần
Khâm,
con của
vua Trần
Thánh
Tông,
sinh năm
1258,
lên ngôi
vua năm
20 tuổi,
xuất gia
năm 41
tuổi và
tịch năm
1308 vào
lúc 51
tuổi.
Tác giả
Đại Việt
Sử Kư
Toàn Thư
viết: "Vua
được
tinh anh
của
thánh
nhân,
đạo mạo
thuần
túy,
nhan sắc
như vàng,
thể chất
hoàn
toàn,
thần khí
tươi
sáng,
hai cung
đều cho
là lạ,
gọi là
Kim Tiên
Đồng Tử;
ở vai
bên tả
có nốt
ruồi đen,
cho nên
có thể
cáng
đáng
được
việc lớn:
ở ngôi
14 năm,
nhường
ngôi 5
năm,
xuất gia
8 năm,
thọ 51
tuổi,
băng ở
am Ngọa
Vân núi
Yên Tử.
Ḥa nhă,
cố kết
ḷng dân,
sự
nghiệp
phục
hưng làm
vẻ vang
đời
trước,
thực là
vua hiền
của nhà
Trần.
Song vui
ḷng ở
kinh
Phật,
tuy bảo
là đến
siêu
thoát,
nhưng
không
phải là
đạo
trung
dung của
thánh
nhân".
Sử thần
Ngô Sĩ
Liên c̣n
nói: "Nhân
Tông
trên thờ
Từ Cung
tỏ rơ
hiếu đạo,
dưới
dùng
người
hiền lập
nên vơ
công,
nếu
không
phải bậc
nhân
minh anh
vũ th́
sao được
như thế?
Duy có
việc
xuất gia
là không
hợp với
đạo
trung
dung".
Đó là
những
lời phê
b́nh về
vua Nhân
Tông của
các sử
thần
theo Nho
Giáo.
Hồi c̣n
nhỏ tuổi,
Trúc Lâm
đă có ư
không
muốn làm
vua, và
muốn
nhường
địa vị
đông
cung
thái tử
cho em.
Sách Tam
Tổ Thực
Lục nói:
"Một đêm
vào giờ
Tư, vua
vượt
thành mà
đi, muốn
đến núi
Yên Tử.
Đến chùa
ở núi
Đông Cứu
th́ trời
sáng,
liền vào
ẩn nấp
trong
tháp. Vị
tăng trụ
tŕ thấy
tướng
mạo dị
thường
liền đem
thức ăn
khoản
đăi. Hôm
ấy thái
hậu và
vua
Thánh
Tông sai
quần
thần đi
t́m tứ
tán, bất
đắc dĩ
vua phải
về. Khi
lên ngôi,
tuy ngồi
trên
chín bệ
vinh
quang
nhưng
sinh
hoạt rất
thanh
tịnh.
Một hôm
ngủ trưa
tại chùa
Tu Phúc
trong
đại nội,
vua mộng
thấy
trên rốn
ḿnh nở
ra một
hoa sen
lớn như
bánh xe,
trên đó
có đức
Phật
vàng.
Bên cạnh,
có người
chỉ vào
vua mà
hỏi:
biết đức
Phật này
không?
Đó là
đức Biến
Chiếu
Tôn đấy!
Vua tỉnh
thức,
đem giấc
mộng nói
lại cho
Thánh
Tông
nghe, ai
cũng lấy
làm lạ.
Từ đó
thường
ăn chay
tránh
thịt cá,
long
nhan gầy
ṃn.
Thánh
Tông
thấy thế
lấy làm
lạ, hỏi.
Điều Ngự
(tức
Nhân
Tông) cứ
thực
tŕnh
bày.
Thánh
Tông
khóc nói:
Ta đă
già,
trông
cậy vào
một ḿnh
ngươi,
nếu
ngươi
như thế
th́ làm
sao nối
được
thịnh
nghiệp
của tổ
tông?
Điều Ngự
cũng
khóc.
Điều Ngự
thánh
tính
thông
minh,
hiếu học,
nhiều
tài, đọc
khắp các
loại
sách,
thông
suốt cả
nội điển
(Phật
học) lẫn
ngoại
điển,
thường
mời các
vị thiền
khách
tới cùng
giảng
cứu
Thiền
học.
Điều Ngự
cũng t́m
tới tham
khảo với
Tuệ
Trung
thượng
sĩ, và
do đó
thâm
nhập
được cốt
tủy của
Thiền
học, cho
nên
thường
lấy tư
cách đệ
tử để
đối đăi
với Tuệ
Trung".
Đă đành
Trúc Lâm
thờ Tuệ
Trung
làm thầy,
nhưng
khi xuất
gia thọ
250 giới
của một
vị tỳ
kheo th́
Tuệ
Trung
vốn là
cư sĩ,
không
thể
truyền
giới cho
vua được.
Ai là
ḥa
thượng
trao
truyền
giới
pháp cho
Trúc Lâm,
và vua
thọ giới
ở đâu?
Hẳn
người
làm Ḥa
thượng
đầu đàn
truyền
giới là
thiền sư
Huệ Tuệ,
lúc ấy
đang
lảnh đạo
sơn môn
Yên Tử,
tổ sư
thứ năm
của
thiền
phái. Và
lễ thọ
giới
xuất gia
của Trúc
Lâm chắc
chắn
được tổ
chức
trên núi
Yên Tử.
Trúc Lâm
tuy học
với Tuệ
Trung
nhưng
khác với
Tuệ
Trung ở
chỗ vua
rất chú
trọng về
mặt h́nh
tướng
của sự
việc.
Trúc Lâm
xứng
đáng là
vị sáng
tổ của
một môn
phái,
người
lănh đạo
của một
giáo hội.
Vua có ư
định
xuất gia
rất sớm
nhưng ư
định này
chỉ được
thực
hiện vào
năm 1299