Lịch Sử
Đạo Phật ở Việt Nam
Từ
Thời-Đại Du-Nhập Đến Đời Nhà Lư
I. Thời đại Phật Giáo du
nhập:
1.
Con Đường Phật Giáo Du Nhập Vào Việt Nam:
Phật-giáo khởi điểm từ Ấn-Độ rồi truyền
rộng ra các nước lân cận, do hai đường
thủy và bộ. Về đường bộ th́ qua miền
Trung-Á như Tây-Tạng, Mông-Cổ, Trung-Hoa,
rồi từ Trung-Hoa truyền qua các nước Cao-Ly,
Nhật-Bản và Việt-Nam. Về đường thủy th́
qua đảo Tích-Lan, Mă-Lai, Nam-Dương và
Việt Nam.
2.
Địa thế nước Việt-Nam:
Nước Việt-Nam ta nằm giữa hai nước Ấn-Độ
và Trung-Hoa nên cùng chịu ảnh-huởng văn
minh của hai nước ấy. Ngoài ra về phương
diện lịch-sử, nước Việt-Nam về thời bấy
giờ hoàn toàn do người Tàu cai-trị; nên
nước Việt-Nam chịu ảnh-hưởng văn-minh
của Trung-Hoa nhiều hơn cả.
3.
Thời đại du nhập:?
Những sử liệu về thời đại Phật giáo du
nhập Việt-Nam gồm có:
a.
Những thiên truyện kư của các Tăng sĩ
Việt Nam viết từ thế kỷ Xlll và XlV có
chép: Chính đời nhà Hán thế kỷ thứ 2 và
thứ 3 đă có các đạo sĩ ở Bắc như Ngài Ma
Ha Kỳ Vực (Marijivakạ), Khương Tăng Hội
(K'ang Seng Houei) và Mâu Bác (Méou Pô)
b.
Theo truyện Đàm Thuyên Pháp sư có chép:
Vào thời Vua Cao Tổ nhà Tùy của Trung
Hoa, Việt Nam đă có 20 ngọn bảo tháp và
hơn 500 Tăng sĩ, dịch được hơn 15 bộ
kinh rồi.
c.
Theo sách Pháp Vụ Thực Lục: Vào thế kỷ
thứ 3 một người Ấn Độ tên là Kaudra đă
qua Việt Nam một lần với Ngài Ma Ha Kỳ
Vực để truyền đạo.
d.
Theo những sử liệu trên cho chúng ta rơ:
Đạo Phật Việt Nam đă có từ đời nhà Hán
bên Tàu vào cuối thế kỷ thứ 2 và đầu thế
kỷ thứ 3 và những vị truyền giáo đầu
tiên ở Việt Nam là Ngài Ma Ha Kỳ Vực,
Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, và Mâu
Bác. Trong số 4 vị nầy chỉ có Ngài Mâu
Bác là người Tàu, c̣n 3 vị kia đều là
người Ấn Độ. Ngài Mâu Bác là người
truyền Phật giáo đầu tiên ở đất Giao
Châu vào năm 189 sau Tây lịch. Vậy ta có
thể kết luận rằng: Phật giáo du nhập ở
nước Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ thứ
II.
4.
Các môn phái được du nhập:
Những tôn phái được ưa chuộng hơn hết cả
lúc bấy giờ là Thuyền Tôn (Tôn tu thuyền
trực chỉ). Tôn phái nầy lại được truyền
vào Việt Nam trước hết, do Ngài Tỳ Ni Đa
Lưu Chi (Vinitaruci) truyền đến năm 580
và chính Ngài là Sư tổ Thuyền tôn Việt
Nam, sau lại có Ngài Pháp Hiền Thuyền sư
được kế truyền và thành lập một phái.
Đến đời Đường năm 820, Ngài Vô Ngôn
Thông ở Tàu sang truyền giáo, lập thành
phái Thuyền Tôn thứ 2, rồi kế đến phái
Thảo Đường, Tào Động, Lâm Tế lần lượt
truyền đến Việt Nam. Như vậy, trước sau
chỉ có phái Thuyền Tôn là gây ảnh hưởng
mạnh hơn cả.
II. Phật giáo qua các triều đại:
1.
Phật giáo đời hậu Lư Nam Đế (571- 602)
và đời Bắc thuộc thứ ba (602-939):?
Từ khi Phật giáo truyền vào Việt Nam cho
đến đời tiền Lư Nam Đế tính ra trên 300
năm (189 đến 544-548) nhưng vẫn c̣n nằm
trong thời kỳ phôi thai, chưa có ǵ đáng
gọi là thịnh hành lắm.?? Đến? đời? hậu?
Lư Nam Đế (571-602) và Bắc thuộc lần thứ
ba (603-939) Phật giáo mới bắt đầu bước
vào thời thịnh đạt, v́ lúc bấy giờ có
Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi ở Trung Hoa sang
(580) đem Thuyền Tôn truyền bá và được
người Việt Nam hết sức ái mộ. Do đó ảnh
hưởng Phật giáo được lan rộng rất mạnh ở
nước Việt Nam lúc bấy giờ. Điều đáng chú
ư hơn hết là ba đoàn truyền giáo ở nước
Việt Nam trong hai đoàn trước hầu hết là
người Tàu, nhưng đoàn thứ ba lại hoàn
toàn là 6 vị Pháp sư người Việt, bốn
Ngài ở Giao Châu, Vân Kư Thuyền sư, Mộc
Xoa Đề Bà, Khuy Sung Pháp sư, Huệ Diệm
Pháp sư và hai ngưới Ái Châu: Trí Hành
Thuyền sư, Đại Thặng Đăng Thuyền sư.
2. Phật giáo đời Đinh (968-
980) và đời tiền Lê (980- 1009):?
?Đến đời Đinh, Phật giáo có thể là
độc tôn. Tất cả văn hóa, triều chánh
trong nước phần lớn được hàng Tăng sĩ
hướng dẫn, cho nên đạo Phật được phổ
biến dễ dàng trong quần chúng, mặc dầu
Lăo giáo và Nho giáo đă truyền vào từ
lâu. Về triều chánh th́ có Ngài Ngô Chân
Lưu làm đến chức Khuôn Việt Thái sư,
ngoài ra có Ngài Trương Ma Ni làm Tăng
Lục Đạo sĩ và Pháp sư Đặng Huyền Quang
làm Sùng Châu Uy Nghi.
Đến khi nhà Đinh mất, nhà Tiền Lê (Lê
Đại Hành) lên kế vị, chống lại quân nhà
Tống (980). Trong giai đoạn nầy, các
Tăng sĩ lại được biệt đăi hơn, v́ chính
Vua Lê Đại Hành vẫn c̣n triệu thỉnh các
Tăng thống vào triều để bàn hỏi việc
nước và việc truyền bá Phật giáo.
Điều đáng chú ư hơn cả là trong khi nước
ta đă ḥa với nước Tống, Vua Đại Hành
liền cho sứ thần qua thỉnh kinh "Đại
Tạng" và "Cửu kinh" để đem về truyền bá.
Đó là lần cầu kinh thứ nhất ở Việt Nam.
3. Phật-Giáo Đời Nhà Lư
(1010-1225):
a.
Lư Thái Tổ
(1010 - 1028) - Tên thật là Lư Công Uẩn,
con nuôi của sư Lư Khánh Vân, ở chùa
Cổ-pháp, thọ giáo với Ngài Vạn-Hạnh
Thuyền Sư. Sau khi vua Lê-Ngọa Triều mất,
Ngài lên kế vị lấy hiệu Thuận Thiên,
đóng đô ở thành Thăng Long (Hà-Nội). Lư
thái-Tổ là một Phật tử thuần thành nên
sau khi lên ngôi Ngài hết sức chú trọng
đến việc truyền bá Phật giáo. Ngài đă
dựng rất nhiều ngôi chùa và độ rất nhiều
Tăng chúng. Điều đáng chú trọng hơn là
đến năm thứ 9 (1019) Ngài sai sứ thần
qua Tàu thỉnh kinh đem về cất tại kinh
viện Đại hưng.
Triều đại nầy có thể nói rằng một triều
đại hết sức thái b́nh. Nói đến Phật giáo
th́ xưa nay chưa bao giờ có một thời đại
nào thịnh đạt như thế. Vả lại các vị
Thuyền sư lúc bấy giờ như Ngài Vạn Hạnh
Thuyền sư, Đa Bảo Thuyền sư, Sùng Phạm
Thuyền sư là những bậc danh Tăng mà nhà
Vua rất kính trọng. Cho nên việc truyền
giáo của các Ngài rất dễ dàng mau chóng.
Những vị danh Tăng nầy đều ở trong hai
phái Tỳ-Ni-Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông.
b.
Lư Thái Tôn
(1028-1054) - Lư Thái Tôn nối ngôi Thái
Tổ lấy niên hiệu là Thuận Thành, Ngài
cũng là người rất sùng bái đạo Phật. Sau
khi đánh dẹp giặc Chiêm ở đất Hoan Châu
(Nghệ-An) về, Thái Tôn sắc lập 95 ngôi
chùa cử lễ khánh thành hạ chiếu miễn
thuế cho dân trong nước một năm. Đến năm
1034 Thái Tôn đổi niên hiệu là Thông
Thụy: lúc bấy giờ nước Việt-Nam được nhà
Tống ban Đại Tạng Kinh và tự sai sứ rước
qua cho ta. Thật là một ảnh hưởng khả
quan cho Phật giáo nước nhà, mà cũng là
một vinh dự tốt đẹp của triều đ́nh Việt
Nam lúc bấy giờ.
Các vị cao Tăng như Ngài Huệ Sinh Thuyền
sư, Định Hương Trưởng lăo, Thuyền Lăo
Thuyền sư là những bậc danh đức tu hành
và có công truyền bá đạo Phật nhất trong
triều đại Lư Thái Tôn nầy.
c.
Lư Thánh Tôn
(1054-1072): Thánh Tôn nối ngôi Thái Tôn,
đổi quốc hiệu là Đại Việt và lấy niên
hiệu là Long Thụy Thái B́nh. Ngài là một
ông Vua rất sùng mộ đạo Phật. Năm Long
Thụy thứ 5 (1059) Ngài dựng chùa xây
tháp và đúc một quả chuông nặng 12.000
cân đồng, tại làng Bả-Thiên thuộc tỉnh
Hà-Nội. Quả chuông ấy hiện nay vẫn c̣n.
Đến năm 1069 phái Thảo Đường lại xuất
hiện ở Việt Nam, do Ngài Thảo Đường, đệ
tử Ngài Tuyết Đậu Minh Giác bên Tàu
truyền sang. Kế đó Lư Thánh Tôn thọ giáo
với Ngài. Sau được truyền tâm pháp làm
đệ tử đầu tiên của phái Thảo Đường. Phái
Thảo Đường tức là phái Thuyền Tôn thứ 3
ở nước ta vậy.
d.
Lư Nhân Tôn
(1072-1127): Nhân Tôn nối ngôi Thánh Tôn
lên làm Vua, mặc dầu nhà Vua tuổi c̣n
nhỏ nhưng rất thông minh anh dũng. Ngài
lại rất hâm mộ đạo Phật, cho nên ngoài
công việc triều chánh ra, Ngài c̣n luôn
luôn truyền bá Phật giáo. Vă lại lúc bấy
giờ có nhiều vị danh Tăng lỗi lạc như
Ngài Viên Chiếu Thuyền Sư soạn quyển
Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn, Tân Viên
Giác Kinh v.v... C̣n Ngài Ngộ Ấn Thuyền
Sư th́ chuyên môn diễn giảng, do đó Phật
giáo rất được quần chúng hưởng mộ và ảnh
hưởng lan rộng khắp nơi.
e.
Lư Thần Tôn
(1128-1138), Lư Anh Tôn (1138-1175), Lư
Cao Tôn (1176-1210) và Lư Huệ Tôn
(1211-1225): Trong bốn triều đại nầy,
Phật giáo vẫn được thịnh
đạt, nhưng không có ǵ được xuất sắc lắm.
Có các vị cao Tăng như Ngài Minh Không
Thuyền sư và Thông Biện Thuyền sư, thuộc
đời Lư Thần Tôn, Ngài Bảo Giám Thuyền sư
và Ngài Viên Thông Thuyền sư thuộc đời
Lư Anh Tôn, Ngài Trương Tam Tạng Thuyền
sư thuộc đời Lư Cao Tôn. Đến đời Lư Huệ
Tôn th́ vận nước suy đồi, triều đ́nh dấy
loạn, dân sự không an. Nhà vua sanh ḷng
chán nản, nên vào năm Kiến Gia thứ 14
(1224) Ngài truyền ngôi cho con gái là
Công Chúa Phật Kim tức Lư Chiêu Hoàng,
rồi xuất gia tu ở chùa Chân Giáo, tự
xưng là Huệ Quang Đại sư.
Tóm lại, Phật Giáo được thịnh hành nhất
ở Việt Nam chính là đời nhà Lư, v́ trong
215 năm trời, trải qua 8 đời truyền kế,
vua nào cũng sùng tín đạo Phật, lại được
rất nhiều vị danh Tăng ra đời tận tâm v́
Phật sự, cho nên ảnh hưởng của đạo Phật
trong nhân gian được lan rộng và lợi lạc
rất nhiều