|
Con Khỉ Có Lòng Ðại Bi
Ngày xưa, nơi
dãy núi cao Hy Mã Lạp Sơn (Himalayas) có một con khỉ Chúa to
lớn sống chung với một đàn khỉ gồm cả tám chục ngàn con. Chỗ
ở của chúng là một khu rừng trống nằm sát bờ con sông Hằng
(Ganges). Tại đây, cạnh dòng nước sạch và trong chảy ra từ
núi đá, có một cây cao bóng mát. Mùa hè, cây nặng trĩu đầy
những trái óng ánh vàng to lớn.
Vừa thấy trái
cây chín, những con khỉ liền hái ăn ngay càng sớm càng tốt
vì khỉ Chúa, rất đỗi khôn ngoan, đã dặn dò đàn khỉ con: "Ðừng
bao giờ để một trái cây nào rơi xuống nước. Nếu việc ấy xảy
ra, trái cây đó sẽ bị dòng sông cuốn trôi về những thung
lũng và thành phố xa xôi có loài người sinh sống. Rồi họ có
thể tới đây tìm ra được cái cây có trái ngon ngọt này và sẽ
xâm phạm lãnh thổ an lành của chúng ta".
Lúc ấy có một
nhánh cây sà thấp xuống mặt sông. Một trái chín nằm ẩn trong
chiếc tổ kiến, rơi xuống nước và bị cuốn trôi theo dòng sông
chảy xiết. Nó trôi xa xuống tận miền nam, và cuối cùng trái
cây đó lạc vào kinh thành Ba La Nại nằm bên bờ sông Hằng.
Sáng nọ,
Bờ-Ra-Ma-Ðát-Ta, vua xứ Ba La Nại, đang tắm trong một khúc
sông nằm giữa hai chiếc lưới của những người đánh cá. Khi
nhà vua tắm xong, thì mấy lưới đánh cá được người ta kéo lên,
trong lưới có một trái cây chín sắc vàng lóng lánh. Hết sức
kinh ngạc, những người đánh cá cầm nó chạy đến với sự ngạc
nhiên vì từ trước tới nay, ông ta chưa hề thấy loại trái cây
đó bao giờ.
Ðức vua hỏi họ:
"Trái cây có sắc vàng rực rỡ này ở đâu vậy?"
Dân chài lưới
chỉ biết việc làm sao bắt được cá để cho nhà vua dùng, trả
lời: "Tâu bệ hạ, chúng tôi không biết".
Ðức vua ra lệnh:
"Hãy gọi lính kiểm lâm lại đây".
Những người
lính kiểm lâm đến thưa: "Tâu Hoàng Thượng, đây là trái
xoài."
Nó mọc ở đâu?"
"Tâu bệ hạ,
không có trong nước chúng ta. Loại trái cây này được trồng
rất xa, nơi thung lũng của núi Hy Mã Lạp Sơn".
Người hầu cận
cắt trái xoài ra và dâng một miếng lên đức vua dùng. Nhà vua
đưa phần còn lại cho hoàng hậu và các triều thần.
Tất cả ăn đều
trầm trồ khen ngon:"Ðây là một trái cây có hương vị tuyệt
diệu. Chúng tôi chưa từng thưởng thức bao giờ".
Những ngày sau,
vua Bờ-Ra-Ma-Ðát-Ta muốn dùng thêm nữa loại trái cây chín
vàng ngon ngọt này. Lòng ham muốn của đức vua mãnh liệt đến
nỗi ông ta không thể ngủ nghỉ gì được khi nhớ tới trái xoài
mà đức vua đã dùng qua một lần. Cuối cùng nhà vua quyết định
lên đường đi tìm cây xoài nơi xa xôi ấy. Một đoàn thuyền gồm
nhiều chiếc bè kết hợp lại, đức vua và những người tháp tùng
đã chèo ngược dòng sông đi lên.
Sau một chuyến
đi dài qua nhiều ngày đêm, họ tới một thung lũng núi có cây
xoài mọc bên cạnh bờ sông. Ðức vua bước lên bờ với đoàn tùy
tùng, và tất cả đã dự một bữa tiệc dùng toàn những trái xoài
đầy nước ngon ngọt. Ban đêm, nhà vua nằm ngủ dưới gốc cây,
có lính canh gác. Lửa được thắp sáng hai bên để ngăn không
cho các thú dữ lại gần.
Khuya về đêm,
khi đức vua đang say ngủ và những tên lính gác vừa mới chợp
mắt thiu thiu, khỉ Chúa cùng với đàn khỉ con tìm đến, nhảy
lên cây và ăn tất cả những trái xoài còn lại. Chúng làm ồn
ào khiến nhà vua thức giấc. Nhìn thấy các bầy khỉ đang di
chuyển từ cành này qua cành kia, đức vua gọi lính bắn cung
lại và ra lệnh: "Hãy bao vây cây xoài và bắn hạ những con
khỉ này. Ngày mai chúng ta sẽ dùng thịt khỉ với xoài. Món ăn
đó chắc sẽ là ngon lắm".
Ðàn khỉ thình
lình nghe được những lời nói trên của đức vua, chúng run sợ
và đến gặp khỉ Chúa: "Thưa Ðại Vương, than ôi, dù ngài đã
cảnh cáo nhưng chúng tôi không rõ làm thế nào một trái xoài
đã rơi xuống sông khiến cho có người biết tìm đến đây. Vị
thủ lảnh đã ra lệnh cho lính của ông ta bắn vào chúng tôi.
Cây xoài đã bị bao vây, chúng tôi không tìm đường thoát được.
Vậy chúng tôi phải làm sao?"
Khỉ Chúa nói: "Này
các con, đừng sợ. Ta sẽ tìm cách cứu các con."
Sau khi an ủi
bầy khỉ con, khỉ Chúa trèo lên một nhành cây cao nhất và từ
đó nó chuyền băng qua môt cành cây khác trải dài ngang trên
sông. Khỉ Chúa rán hết sức lực nhảy qua sông đặt chân xuống
bờ bên kia. Nó đốn ngã, chặt một đoạn cây trúc cẩn thận đo
chiều dài, và trù tính: "Ta sẽ cột đầu khúc cây trúc vào
một thân cây ở đây và buộc đầu kia quanh vào lưng của ta,
rồi ta sẽ nhảy trở về cây xoài. Với chiếc cầu ta thiết lập,
đàn khỉ con của ta sẽ trốn thoát được".
Nhanh như gió,
khỉ Chúa trở về nơi bầy con của nó đang lo lắng chờ đợi.
Nhưng nó đã lầm lẫn trong sự tính toán, vì quên tính phần
ngọn trúc buộc quanh lưng nó. Cành trúc quá ngắn và khỉ Chúa
chỉ có thể vừa với tới được nhánh cây xoài. Hết sức cố gắng,
nó rán bám vào một nhánh cây và bảo đàn khỉ: "Hãy mau
bước ngang qua lưng tôi đi tới chiếc cầu trúc để vượt thoát
đến bờ bên kia". Từng con một, tám ngàn khỉ con cúi đầu
chào khỉ Chúa, nhẹ nhàng bước qua trên lưng của nó để đến
chiếc cầu trúc.
Trong đàn khỉ
có một con ác độc tên Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta) rất ganh ghét
khỉ Chúa. Nó tự nghĩ rằng: "Ðây là cơ hội tốt để giết
chết kẻ thù của mình". Do đó nó giẫm mạnh lên thân khỉ
Chúa khiến lưng con này bị gẫy và rất đau. Ðề Bà Ðạt Ða tàn
ác đã an toàn tới được cành trúc bỏ mặc khỉ Chúa bị thương
nằm chết một mình.
Vua Bờ Ra Ma
Ðát Ta thức dậy, và chứng kiến mọi việc xảy ra. Lòng đức vua
vô cùng xót thương con khỉ Chúa anh hùng. Sáng hôm sau, ông
truyền lệnh cho quân lính mang khỉ Chúa xuống từ cành cây nó
đang còn bám vào. Sau đó, người ta tắm rửa khỉ Chúa bị
thương trong nước thơm dịu dàng nhất và mặc cho nó chiếc áo
vải vàng mềm mại. Ðức vua ngồi bên cạnh con khỉ đầu đàn và
hỏi: "Này khỉ Chúa cao cả, nhà ngươi đã dùng thân mình
làm chiếc cầu để cho đàn khỉ đi qua. Làm vậy, ngươi đã hy
sinh mạng sống của mình. Ngươi là gì của bầy khỉ, và chúng
là thế nào đối với nhà ngươi?".
Con khỉ Chúa
sắp chết trả lời: "Tâu đại vương, đàn khỉ là con của tôi,
và tôi là thủ lãnh và người dẫn dắt chúng. Chúng mến thương
và tin tưởng nơi tôi. Tôi không có gì ân hận (hối tiếc) khi
từ giã cõi đời này vì tôi đã cứu thoát được thần dân của tôi.
Nếu muốn trị nước có kết quả tốt thì điều trước tiên là ngài
nên luôn luôn lo nghĩ đến sự hạnh phúc và an lạc của người
dân".
Nói xong, khỉ
Chúa nhắm mắt lìa đời. Vua Bờ Ra Ma Ðát Ta ra lệnh lo tang
lễ cho nó với tất cả điều vinh dự của một đức vua.
Người ta dựng
lên một ngọn tháp kỷ niệm tại nơi thân khỉ Chúa đã được hỏa
táng. Dân chúng cũng thắp đèn đuốc sáng nơi ấy và dâng hương
hoa cúng lễ cho nó.
Khi nhà vua trở
về thành Ba La Nại, ông ra lệnh xây một ngôi tháp khác để
tôn thờ khỉ Chúa và khuyên bảo dân chúng nên tỏ lòng cung
kính, nhằm tưởng niệm một con vật thật hết sức hy sinh. Suốt
đời, nhà vua luôn ghi nhớ những lời nói cuối cùng của khỉ
Chúa và đã cai trị dân chúng trong nước ông một cách sáng
suốt và nhân từ.
Trích từ "Những
mẫu chuyện tiền thân Ðức Phật"
------>
Trở về Phật
Pháp Ngành Thiếu
<------
|